CHƯƠNG 1:

 

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HỘ LAO ĐỘNG

 

I/ MỞ ĐẦU

 

1/ Ý nghĩa, m ục đích của công tác Bảo hộ lao động: a/ Ý nghĩa:

Bảo hộ lao động là mộ t chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, nó mang ý nghĩa chính trị, xã hội và kinh tế.

 

- Ý nghĩa chính trị: Tùy theo mỗi ch ế độ xã hộ i, quan điểm lao động và tổ chức lao động có những điểm khác nhau căn bản. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng, người lao động đã trở thành người chủ xã hội, lao động đã trở thành vinh dự và nghĩa v ụ của con người, bảo hộ lao động đã trở thành chính sách lớn của Đảng và nhà nướ c. Đảng và Chính phủ luôn quan tâm đến công tác bảo hộ lao độ ng, trên quan đ iểm ( Con người là vốn quý nhất ) điều kiện lao động không ngừng được cải thiện, đi ều này đã thể hiện bản chất t ốt đẹp của chế độ xã hội ta. Như vậy b ảo hộ lao động đã phản ánh bản chất của một chế độ xã hội và mang ý nghĩa chính trị rõ rệt.

  • Ý nghĩa xã hội: Bảo hộ lao động góp phần tích cực vào việc củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, nhờ chăm lo bảo đảm an toàn và bảo vệ sức khỏe cho người lao động, không ngừng mang lại hạnh phúc cho bản thân và gia đình họ mà bảo hộ lao động mang ý nghĩa xã hội và nhân đạo sâu sắc.
  • ý nghĩa kinh tế: Bảo hộ lao động còn mang ý nghĩa kinh tế quan trọng. Trong lao động sản xuất, người lao động được bảo vệ tốt, không bị tai nạn, ốm đau bệnh tật, họ sẽ yên tâm phấn khởi sản xuất, nâng cao năng suất lao động, hoàn thành kế hoạch sản xuất, chất lượng sản phẩm tốt. Do đó thu nhập cá nhân và phúc lợi tập thể sẽ được tăng lên, điều kiện đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được cải thiện. Ngược lại, tai nạn lao động, ốm đau bệnh tật xảy ra nhiều sẽ ảnh hưởng đến lực lượng sản xuất. Đồng thời chi phí để khắc phục vụ hậu quả do tai nạn, ốm đau cũng rất lớn. Cho nên quan tâm thực hiện tốt bảo hộ lao động là thể hiện quan điểm sản xuất đầy đủ, là tạo điều kiện để sản xuất phát triển và đem lại hiệu quả kinh tế cao.

 

  1. Mục đích:

 

  • Mục đích của công tác bảo hộ lao động là thông qua các biện pháp khoa học kỹ thuật, tổ chức, kinh tế, xã hội để hạn chế, loại trừ các yếu tố nguy hiểm độc hại, tạo ra điều kiện lao động thuận lợi cho người lao động, để ngăn ngừa tai nạn lao động, bảo vệ sức khoẻ, góp phần bảo vệ và phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động.

 

2- Tính chất của công tác Bảo hộ lao động:

Bảo hộ lao động có ba tính chất chủ yếu đó là: Tính pháp luật, tính khoa học kỹ thuật và tính quần chúng.

  1. Tính pháp luật: Tất cả những chính sách, chế độ, quy phạm, tiêu chuẩn của Nhà nước về bảo hộ lao động được nghiên cứu, xây dựng nhằm bảo vệ con người trong sản xuất. Nó là cơ sở pháp lý bắt buộc các tổ chức Nhà nước, tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế và mọi người tham gia lao động phải nghiêm chỉnh chấp hành.

 

 

  1. Tính khoa học kỹ thu ật: Mọi hoạt động trong công tác bảo hộ lao động từ điều tra, khảo sát điều kiện lao động, phân tích, đánh giá các yếu tố ả nh hưởng của chúng đế an toàn và vệ sinh lao động, cho đến việc đề xuất và thực hiện các giải pháp phòng ngừa, xử lý khắc phụ c v. v … đều phải vận dụng lý thuyết và thực tiễn trong các lĩnh vực khoa học - kỹ thu ật chuyên ngành hoặc tổng hợp nhiều chuyên ngành, đồng thời kiến thức về bảo hộ lao động phải đi trước một bước.

 

  1. Tính quần chúng: Tính quần chúng thể hiện trên hai mặt:

 

  • Một là bảo hộ lao động có liên quan đến tất cả mọi người tham gia sản xuất. Vì họ là người trực tiếp sản xuất, trực tiếp với các công cụ, thiết bị v.v … nên họ có khả năng đề xuất về mẫu, cách sử dụng, bảo quản, nội quy sử dụng…
  • Hai là: Dù cho chế độ, chính sách, các tiêu chuẩn quy phạm có đầy đủ nhưng mọi người từ quản lý, lãnh đạo người sử dụng lao động, không tự giác chấp hành thì công tác bảo hộ lao động cũng không thể đạt được kết quả mong muốn.

 

3- Đối tượng, nhiệm vụ, nội dung và phương pháp nghiên cứu:

 

  1. Đối tượng:

 

  • Bảo hộ lao động là môn khoa học nghiên cứu các vấn đề về lý thuyết và thực tiễn về an toàn và vệ sinh lao động, an toàn phòng chống cháy nổ, những nguyên nhân và các biện pháp phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các yếu tố độc hại, các sự cố cháy nổ trong sản xuất.

 

  1. Nhiệm vụ:

 

  • Nhiệm vụ cụ thể của môn học bảo hộ lao động là trang bị cho người học những kiến thức về luật pháp bảo hộ lao động của Nhà Nước, các biện pháp phòng chống tai nạn và bệnh nghề nghiệp, chống lại nguy hiểm về cháy và nổ có thể xảy ra trong sản xuất, nhằm bảo đảm tính mạng và sức khỏe cho người lao động, bảo vệ tài sản của Nhà nước và nhân dân.

 

  1. Nội dung:

Bảo hộ lao động gồm có những phần chính sau đây

-Pháp luật bảo hộ lao động là một bộ phận của luật lao động, bao gồm những văn bản của Nhà nước quy định các chế độ, chính sách về bảo vệ con người trong sản xuất như: Thời gian làm việc và nghỉ ngơi, bảo vệ bồi dưỡng sức khỏe cho người lao động, chế độ đối với lao động nữ, các tiêu chuẩn, quy phạm về kỹ thuật an toàn và vệ sinh lao động…

 

-Vệ sinh lao động là phần nghiên cứu các ảnh hưởng của quá trình lao động, môi trường lao động đến sức khỏe con người, nghiên cứu những biện pháp về tổ chức, kỹ thuật và vệ sinh để phòng tránh các bệnh nghề nghiệp. Quy định các tiêu chuẩn vệ sinh cho phép đối với các môi trường lao động nhằm tạo nên điều kiện tốt nhất đảm bảo sức khoẻ cho người lao động.

  • Kỹ thuật an toàn là phần nghiên cứu những nguyên nhân gây ra chấn thương và tai nạn trong sản xuất, nghiên cứu những biện pháp về tổ chức và kỹ thuật nhằm hạn chế và loại trừ tai nạn lao động.
  • Kỹ thuật phòng chống cháy là phần nghiên cứu phân tích những nguyên nhân gây ra cháy nổ, đề ra những biện pháp về tổ chức, kỹ thuật đề phòng cháy nổ và chữa cháy trong quá trình sản xuất một cách hiệu quả nhất.

 

  1. Phương pháp nghiên cứu:

 

 

 

2

 

Bảo hộ và an toàn lao động ngành Trung học Xây dựng

 

- Phương pháp nghiên cứu môn Bảo hộ lao động ch ủ yếu là tập trung vào đi ều kiện lao động, phân tích nguyên nhân phát sinh các yếu tố nguy hiểm, độc hại gây ra sự cố tai nạn, bệnh nghề nghiệp, trên cơ sở đó đề xu ất và thực hiện các biện pháp phòng ngừa và loại trừ các nguyên nhân phát sinh của chúng, bảo đảm an toàn và vệ sinh trong các quá trình sản xuất. Đối t ượng nghiên cứu chính là quy trình công nghệ, cấu tạo và hình dạng thiết bị, đặc tính của nguyên vật liệu, thành phẩm và bán thành phẩm.

 

- Bảo hộ lao động trong xây dựng có liên quan đến các môn khoa học cơ bản như toán, lý, hóa… và các môn khoa học k ỹ thuật như điện kỹ thuật, kiến trúc, cơ kết cấu, đặc biệt là các môn kỹ thuật thi công và tổ chức thi công đ ó là kiến thức tổng hợp của ngành xây dựng. Do đ ó khi nghiên cứu các vấn đề bảo hộ lao độ ng, chỉ có thể có hiệ u qu ả khi dựa trên cơ sở những thành tựu củ a các môn khoa học kế cận có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề đảm bảo điều kiện lao động lành mạnh và an toàn.

 

II/ CÔNG TÁC BẢO HỘ LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM

 

1/ Đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác bảo hộ lao động:

 

Ngay từ khi Nhà nướ c Việt Nam dân chủ cộng hòa mới ra đời, trong lúc toàn dân ta còn đang phải chống thù trong giặc ngoài, bản hiến pháp đầu tiên do chủ tịch Hồ Chí Minh tự tay thảo ra n ăm 1946 đã quy định rõ quyền làm việc, quyền nghỉ ngơi, quyền hưởng chế độ bảo hiểm của người lao động. Điều đó đã nói rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là m ặc dù trong hoàn cảnh nào cũng phải bảo v ệ và bồi dưỡng giai cấp công nhân, b ảo vệ và bồi dưỡng người lao động. Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước một phần được thể hiện ở các văn bản về chế độ chính sách bảo hộ lao động mà Nhà nước đã ban hành, đó chính là cơ sở pháp luật để hướng dẫn các cấp, các ngành, các cơ sở sản xuất, kinh doanh và mọi người lao động nghiêm chỉnh chấp hành.

 

- Ngay sau khi Cách Mạng Tháng Tám thành công, ngày 12 tháng 3 năm 1947 Hồ Chủ Tịch đã ký sắc lệnh 29- SL ban hành luật lao động đầu tiên ở Việt Nam. Trong thời kỳ kháng chi ến chống Pháp, chính phủ đã ban hành sắc lệnh 77- SL trong đó có các đi ều quy định về thời gian làm việc trong ngày, ch ế độ lương và phụ cấp, chế độ nghỉ phép nă m … Trong từng thời kỳ khôi phục và phát tri ển kinh tế, xây dựng đất nước, Đảng và Chỉnh phủ ta lại không ngừng bổ sung và cụ thể hóa các chế độ, chính sách cho phù hợp với tình hình từng lúc. Để thực hi ện chủ trươ ng tăng cường công tác bảo hộ lao động thao tinh thần nghị quy ết Đại hội lần thứ III của Đảng, ngày 18 tháng 12 năm 1964 Hội đồng chính phủ đã có Nghị định 181 -CP ban hành điều lệ t ạm thời về bảo hộ lao động. Đây là văn bản tương đố i toàn diện và hoàn chỉnh về bảo hộ lao động ở nước ta, vừa xác định mục đích, yêu cầu, vừa quy định nội dung, biện pháp và trách nhiệm thực hiện. Nhà nước ta còn ban hành nhiều Thông tư, Ch ỉ thị quy đị nh cụ thể việc thực hiện từng mặt công tác nh ư: Lập và thực hi ện kế hoạch bảo h ộ lao động, tổ chức bộ máy chuyên trách công tác bảo hộ lao động; huấn luyện v ề kỹ thuật an toàn; công tác thanh tra, kiểm tra, khai báo, điều tra tai nạn lao động…

- Trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, năm 1967, Bộ

 

 

 

3

 

Bảo hộ và an toàn lao động ngành Trung học Xây dựng

 

Chính trị Trung ươ ng Đảng đã ra Nghị quyết s ố 161 và Hội đồng Chính Phủ ra Nghị quyết 103 về công tác quản lý lao động, trong đó có nêu chủ trương về công tác bảo hộ trong thời chiến.

 

  • Từ sau ngày Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, nước nhà thống nhất, bước vào, giai đoạn khôi phục, xây dựng và phát triển đất nước trong phạm vi cả nước, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV (1976) đã vạch ra chủ trương, phương hướng về công tác bảo hộ lao động “Sớm ban hành luật lao động, coi trong việc cải thiện điều kiện lao động, tích cực chống tai nạn lao động, chú ý vệ sinh lao động…” trong các kỳ Đại hội lần thứ V (1982), lần thứ VII (1991) đều có đề cập tới công tác bảo hộ lao động. Tháng 9 năm 1991. Hội đồng Nhà nước đã ban hành pháp lệnh bảo hộ lao động. Liên Bộ Lao động, Thương binh và xã hội, y tế và tổng liên đoàn lao động đã ban hành thông tư liên bộ số 17/TT-LB ngày 26 tháng 12 năm 1991 hướng dẫn việc thực hiện pháp lệnh bảo hộ lao động. Pháp lệnh đã quy định rõ những nguyên tắc về tổ chức, các biện pháp kỹ thuật an toàn và vệ sinh lao động nhằm phòng ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, xác định trách nhiệm quản lý Nhà nước của các ngành, các cấp, các tổ chức xã hội, trách nhiệm thi hành của các tổ chức và cá nhân sử dụng lao động. Pháp lệnh cũng có một chương quy định về quyền hạn và trách nhiệm của tổ chức công đoàn trong công tác bảo hộ lao động.
  • Bộ luật lao động của Nhà nước ta đã được Quốc Hội khóa IX thông qua ngày 23 tháng 6 năm 1993 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 1995.

 

  • Bộ luật lao động bảo vệ quyền làm việc, lợi ích và các quyền khác của người lao động, trong đó có cả chương IX (14 điều) quy định về an toàn và vệ sinh lao động. Điều 95 trong luật đã quy định: “Người sử dụng lao động có trách nhiệm trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ lao động, bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động và cải thiện điều kiện lao động cho người lao động. Người lao động phải tuân thủ các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động và nội quy lao động của doanh nghiệp. Mọi tổ chức và cá nhân có liên quan đến lao động, sản xuất phải tuân theo pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động và về bảo vệ môi trường”
  • Khoản 2 của điều 95 Bộ luật đã quy định: “Chính phủ lập chương trình quốc gia về bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động, dựa vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách của Nhà nước, đầu tư nghiên cứu khoa học, hỗ trợ phát triển các cơ sở sản xuất dụng cụ, thiết bị an toàn lao động, vệ sinh lao động, phương tiện bảo vệ cá nhân; ban hành hệ thống tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm về an toàn lao động, vệ sinh lao động”
  • Ngoài ra trong bộ luật lao động còn có nhiều điều thuộc các chương khác cùng đề cập những vấn đề có liên quan đến bảo hộ lao động. Ví dụ điều 39 chương IV quy định một trong nhiều trường hợp về chấm dứt hợp đồng là: “Người sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi người lao động ốm đau hoặc bị tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo quyết định của thầy thuốc”

 

 

2- Trách nhiệm của các cấp, các ngành và công đoàn trong công tác bảo hộ lao động:

  1. Trách nhiệm của các tổ chức cơ sở:

Trong pháp lệnh bảo hộ lao động đã có năm điều nói về quyền hạn và nghĩa vụ

 

 

 

 

4

 

Bảo hộ và an toàn lao động ngành Trung học Xây dựng

 

của người s ử dụ ng lao độ ng (lãnh đạo các doanh nghiệp, đơn vị cơ sở trong tất cả các thành phần kinh tế) trong công tác bảo hộ lao động gồm các nội dung chủ yếu sau:

 

-Phải nắm vững và thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản pháp lu ật, ch ế độ chính sách, quy ph ạm, tiêu chuẩn về bảo hộ lao độ ng. Đồng thời phải tổ chức giáo dục, tuyên truyền, huấn luyện cho người lao động trong đơn vị hiểu biết và chấp hành.

 

  • Phải chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm an toàn và vệ sinh lao động cho người lao động, thực hiện đầy đủ các chế độ bảo hộ lao động (chế độ trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân, chế độ bồi dưỡng độc hại, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ phụ cấp làm thêm giờ, chế độ lao động nữ và lao động chưa thành niên…)

 

  • Phải ký thỏa ước lao động với tổ chức công đoàn hoặc đại diện người lao động về lập kế hoạch và thực hiện các biện pháp bảo hộ lao động, kể cả kinh phí để hoàn thành kế hoạch.
  • Phải thực hiện chế độ khám tuyển, khám định kỳ, theo dõi sức khỏe cho người lao động, phải chịu trách nhiệm về việc để xảy ra tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, phải giải quyết mọi hậu quả gây ra, Phải tuân thủ các chế độ điều tra, thống kê, báo cáo về tai nạn, bệnh nghề nghiệp theo quy định.
  • Phải tổ chức tự kiểm tra công tác bảo hộ lao động, đồng thời phải tôn trọng và chịu sự kiểm tra của cấp trên, sự thanh tra của Nhà nước, sự kiểm tra giám sát về bảo hộ lao động của tổ chức công đoàn theo quy định của pháp luật.

 

b- Trách nhiệm của các cơ quan quản lý cấp trên:

  • Pháp lệnh bảo hộ lao động quy định rõ các cấp trên cơ sở như ngành, địa phương có những trách nhiệm chủ yếu sau đây trong công tác bảo hộ lao động.

 

  • Thi hành và hướng dẫn đơn vị cấp dưới chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, chế độ chính sách và hướng dẫn các quy định về bảo hộ lao động.
  • Ban hành các chỉ thị, hướng dẫn các quy định về bảo hộ lao động cho ngành, địa phương mình song không được trái pháp luật và quy định chung của Nhà nước. Chỉ đạo thực hiện các kế hoạch, biện pháp đầu tư, đào tạo, huấn luyện, sơ kết, tổng kết về công tác bảo hộ lao động; tiến hành khen thưởng thành tích, xử lý kỷ luật về công tác bảo hộ lao động; Tiến hành khen thưởng thành tích, xử lý kỷ luật những
  • phạm về công tác bảo hộ lao động trong phạm vi ngành, địa phương mình.
    • Thực hiện trách nhiệm trong việc điều tra, phân tích, thống kê báo cáo về tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Hướng dẫn các đơn vị tự kiểm tra và tiến hành kiểm tra thực hiện công tác bảo hộ lao động trong ngành và địa phương mình.
    • Thực hiện các biện pháp về tổ chức, bố trí cán bộ và phân cấp trách nhiệm hợp lý cho các cấp dưới để bảo đảm tốt việc quản lý, chỉ đạo công tác bảo hộ lao động trong ngành và địa phương.

 

  1. Trách nhiệm của tổ chức công đoàn:
  • Căn cứ vào luật công đoàn, pháp lệnh Bảo hộ lao động và Bộ luật lao động, những nội dung chủ yếu về quyền hạn, nhiệm vụ và trách nhiệm của tổ chức công đoàn trong công tác bảo hộ lao động là:
  • Thay mặt người lao động ở các cơ sở ký thỏa thuận với người sử dụng lao động (Trong tất cả các thành phần kinh tế) về các biện pháp cải thiện điều kiện làm

 

 

 

 

5

 

Bảo hộ và an toàn lao động ngành Trung học Xây dựng

 

việc, bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động.

 

  • Tiến hành kiểm tra việc chấp hành pháp luật và các chế độ chính sách về bảo hộ lao động. Công đoàn có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước, các cấp chính quyền, người sử dụng lao động thực hiện đúng pháp luật về tiêu chuẩn quy định bảo hộ lao động, yêu cầu người có trách nhiệm tạm ngưng hoạt động ở những nơi có nguy cơ gây tai nạn lao động.
  • Tổ chức tuyên truyền, vận động, giáo dục người lao động tự giác chấp hành tốt các luật, chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, các quy định về bảo hộ lao động.

 

  • Tổ chức tốt phong trào quần chúng “Bảo đảm an toàn và vệ sinh lao động” quản lý và tổ chức chỉ đạo tốt mạng lưới an toàn, vệ sinh viên ở các cơ sở.

-Tham gia gia với cơ quan Nhà nước, các cấp chính quyền xây dựng các văn bản pháp luật, chế độ chính sách, tiêu chuẩn, quy định về bảo hộ lao động. Đối với cơ sở, công đoàn cần tham gia tích cực vào việc xây dựng các kế hoạch, biện pháp về bảo hộ lao động.

 

  • Cử đại diện tham gia vào các đoàn điều tra tai nạn lao động.
  • Tham gia với chính quyền xét khen thưởng và kỷ luật về bảo hộ lao động.
  • Thực hiện công tác nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực bảo hộ lao động.

 

  • Nhiệm vụ, quyền hạn của công đoàn doanh nghiệp:

 

Theo Thông tư liên tịch s ố 14/1998/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN ngày 31 tháng 10 năm 1998 quy định Công đoàn doanh nghiệp có năm nhiệm vụ và ba quyền sau đây:

 

  • Nhiệm vụ:

 

  • Thay mặt người lao động ký thỏa ước lao động tập thể trong đó có các nội dung về bảo hộ lao động.

 

  • Tuyên truyền vận động, giáo dục người lao động thực hiện tốt các quy định của pháp luật về bảo hộ lao động, kiến thức khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động, chấp hành quy trình, quy phạm các biện pháp làm việc an toàn và phát hiện kịp thời những hiện tượng thiếu an toàn vệ sinh trong sản xuất, đấu tranh với những hiện tượng làm bừa, làm ẩu vi phạm quy trình kỹ thuật an toàn.
  • Động viên người lao động phát huy sáng kiến cải tiến thiết bị máy móc và công cụ lao động nhằm cải thiện môi trường làm việc, giảm nhẹ sức lao động.

 

  • Tổ chức lấy ý kiến tập thể người lao động tham gia xây dựng nội quy, quy chế quản lý về an toàn vệ sinh lao động, xây dựng kế hoạch bảo hộ lao động, đánh giá việc thực hiện các chế độ chính sách bảo hộ lao động, biện pháp bảo đảm an toàn, sức khỏe người lao động. Tổng kết rút kinh nghiệm hoạt động bảo hộ lao động của Công đoàn ở doanh nghiệp để tham gia với người sử dụng lao động.

-Phối hợp tổ chức các hoạt động để đẩy mạnh các phong trào bảo đảm an toàn vệ sinh lao động bồi dưỡng nghiệp vụ và các hoạt động bảo hộ lao động đối với mạng lưới an toàn vệ sinh viên.

 

  • Quyền:

 

  • Tham gia xây dựng các quy chế, nội quy về quản lý bảo hộ lao động, an toàn lao động và vệ sinh lao động với người sử dụng lao động.
  • Tham gia các đoàn kiểm tra công tác bảo hộ lao động do doanh nghiệp tổ chức, tham dự các cuộc họp kết luận của thanh tra, kiểm tra, các đoàn điều tra tai

 

 

 

6

 

Bảo hộ và an toàn lao động ngành Trung học Xây dựng

 

nạn lao động.

 

  • Tham gia điều tra tai nạn lao động, nắm tình hình tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và việc thực hiện kế hoạch bảo hộ lao động và các biện pháp bảo đảm an toàn, sức khỏe người lao động trong sản xuất, đề xuất khắc phục thiếu sót tồn tại.

 

  1. Công tác thanh tra, kiểm tra về bảo hộ lao động:

 

  • Công tác thanh tra, kiểm tra về bảo hộ lao động ở nước ta được thực hiện dưới các hình thức: Thanh tra Nhà nước; Kiểm tra của cấp trên đối với cấp dưới; Tự kiểm tra của cơ sở và việc kiểm tra, giám sát của tổ chức Công đoàn các cấp.

 

  • Hệ thống thanh tra Nhà nước về bảo hộ lao động ở nước ta hiện nay gồm: Thanh tra về an toàn lao động đặt trong Bộ Lao động – Thương binh và xã hội.

Thanh tra về vệ sinh lao động đặt trong Bộ Y tế. Các hệ th ống này có nhiệ m vụ thanh tra việc thực hiện pháp luật về bảo hộ lao động của t ất c ả các ngành, các cấp, các tổ chức, cá nhân có sử dụng lao động. Thanh tra viên có quyền xử lý tại chỗ các vi phạm, có quyền đình chỉ hoạt động sản xuất ở những nơi có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động hoặc ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

 

  • Các cấp trên ở địa phương hoặc ngành trong phạm vi quản lý mình cần tiến hành các đợt kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất về bảo hộ lao động đối với cơ sở.
  • Các cơ sở phải định kỳ tiến hành tự kiểm tra về bảo hộ lao động để đánh giá tình hình, phát hiện những sai sót, tồn tại và đề ra các biện pháp khắc phục để công tác bảo hộ lao động được thực hiện tốt. Theo quy định của luật Công đoàn và pháp lệnh bảo hộ lao động, tổ chức Công đoàn các cấp có quyền kiểm tra, giám sát các ngành, các cấp tương ứng, người sử dụng lao động. Đồng thời Công đoàn cấp trân tiến hành việc kiểm tra cấp dưới trong hoạt động bảo hộ lao động.
  • Ngoài các hình thức thanh tra, kiểm tra nêu trên, Liên Bộ và Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam cũng như các Sở và Liên đoàn lao động các Tỉnh, Thành phố hoặc các cấp dưới còn cần phải tiến hành kiểm tra Liên tịch đối với các ngành, địa phương, cơ sở thi hành pháp luật, chế độ chính sách về bảo hộ lao động.

 

  1. Nội dung khai báo, điều tra về tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp:

 

Để nghiên cứu phân tích tìm ra những nguyên nhân tai nạn và b ệnh nghề nghiệp, sự di ễn bi ến của chúng trong từng thời kỳ, ở t ừng ngành nghề, từng địa phương, từng công trường, xí nghiệp, áp dụ ng những biện pháp phòng ngừa cần thiết, các tai nạn xảy ra phải được khai báo, điều tra, thố ng kê chính xác và kịp thời. Đồng thời để phân ra trách nhiệm đối với những ngườ i liên quan đến tai nạn. Tất cả các trường hợp xảy ra đối với ng ười lao động (không phân biệt trong biên chế hay ngoài biên ch ế, hợp đồ ng dài hạn hay hợp đồng công việc) trong giờ làm việc ở công trường, xí nghiệp hoặc trong khi đ i công tác đều ph ải tiến hành khai báo, điều tra theo Quyết định Liên b ộ số 45KB-QĐ ngày 20 tháng 3 năm 1992 của Liên bộ Lao động-thương binh và xã hội, y tế và Tổng liên đoàn lao độngViệt Nam.

 

- Trong Quyết định này quy định rõ thủ tục khai báo, phân cấp và tổ chức điều tra, phươ ng pháp và nội dung, điều tra…Muốn công tác điều tra đạt kết quả tốt, khi tiến hành phải luôn luôn nắm vững các yêu cầu sau:

- Khẩn trươ ng, kị p thời: Tiến hành điều tra ngây sau khi tai nạn x ảy ra lúc hiện trường nơi xảy ra tai nạn còn được giữ nguyên vẹn, ngay cả việc khai thác thông tin của các nhân chứng cũng cần kịp thời.

 

 

 

7

 

Bảo hộ và an toàn lao động ngành Trung học Xây dựng

 

  • Bảo đảm tính khách quan: Phải tôn trọng sự thật, không bao che, không định kiến, suy diễn chủ quan thiếu căn cứ.
  • Cụ thể và chính xác: Phải xem xét một cách toàn diện, kỹ lưỡng từng chi tiết của vụ tai nạn, tránh qua loa, đại khái.

 

  • Trong các trường hợp tai nạn chết người hoặc tai nạn nghiêm trọng làm bị thương nhiều người một lúc, thủ trưởng, giám đốc trực tiếp phải báo ngay bằng điện thoại hoặc bằng cách nào nhanh nhất cho các cơ quan lao động, công đoàn, y tế ở địa phương và cơ quản lý cấp trên trực tiếp biết. Trường hợp chết người phải báo cho cả cơ quan công an, viện kiểm sát nhân dân địa phương, Bộ Lao động-Thương binh và xã hội, Tổng Liên đoàn lao động. Việc điều tra trường hợp này phải tiến hành trong vòng bốn tám giờ kế từ khi xảy ra tai nạn. Biên bản điều tra tai nạn phải được gửi cho các cơ quan lao động, y tế, công đoàn ở địa phương, cơ quan chủ quản. Bộ Lao động Thương binh và xã hội, Tổng Liên đoàn lao động.
  • Khi nghiên cứu phân tích tai nạn, cũng như khi báo cáo, đánh giá về tình hình bảo hộ lao động không thể căn cứ vào số lượng (tuyệt đối) bởi vì số lượng người làm việc không phải là cố định.
  • Để đánh giá đúng đắn tình hình tai nạn và bệnh nghề nghiệp phải sử dụng các hệ

số chấn thương: Hệ số tần số (Kts) và hệ số nặng nhẹ (Kn)

 

- Hệ s ố tần số chấn thương là tỷ số giữa số l ượng tai nạn xảy ra trong một khoảng thời gian nhất định (một quý, nửa năm hay một năm) với s ố người làm việc bình quân trung bình trong thời gian đó. Trong thực tế hệ số tần số chấn thương được tính với 1000 người, được xác định theo công thức.

+ S: Là số trường hợp tai nạn xảy ra phải nghỉ việc trên 3 ngày

theo thống kê trong một thời gian xác định Kts = S/ N * 1000 + N: Số người làm việc trung bình trong khoảng thời gian đó

- Hệ số t ần số chấn thương mới chỉ cho biết tai nạn xảy ra nhiều hay ít trong một đơn vị sản xuất, nh ưng không cho biết đầy đủ về tình trạng tai nạn nặng hay nhẹ. Để đánh giá tình trạng tai nạn ta dùng hệ số nặng nhẹ (Kn)

 

- Hệ s ố n ặng nhẹ là số ngày phải nghỉ việc trung bình tính cho mỗi trường hợp tai nạn xảy ra.

 

+ D: Là tổng số ngày phải nghỉ việc do các trường hợp tai nạn xảy ra

Kn = D/ S

trong khoảng thời gian xét nhất định.

- Trong tính toán S ch ỉ kể các trường hợp làm mất khả năng lao động tạm thời. Những trường h ợp chết hoặc làm mất khả năng lao động vĩnh viễn không kể đến trong hệ số nặng nhẹ, mà phải xét riêng.

.

 

III- PHÂN TÍCH ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG TRONG NG ÀNH X ÂY D ỰNG

 

  1. Khái niệm về điều kiện lao động, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp: Điều kiện lao động nói chung:

 

  • Trong quá trình lao động để tạo ra sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội con người phải làm việc trong những điều kiện nhất định gọi là điều kiện lao động. Điều kiện lao động nói chung được đánh giá trên hai mặt bao gồm : một là quá trình lao động và hai là tình trạng vệ sinh của môi trường, trong đó quá trình lao động được

 

 

 

8

 

Bảo hộ và an toàn lao động ngành Trung học Xây dựng

 

thực hiện.

 

  • Những đặc trưng của quá trình lao động là tính chất và cường độ lao động, tư thế của cơ thể con người làm việc, sự căng thẳng của các bộ phận cơ thể như mắt, tay, chân…
  • Tình trạng vệ sinh lao động ( Vệ sinh môi trường sản xuất ). Đặc trưng bởi

điều kiện vi khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm và lưu chuyển của không khí ). Nồng độ hơi, bụi trong không khí, tiếng ồn, rung động.

 

  • Các yếu tố trên ở trạng thái riêng lẻ hoặc kết hợp trong những điều kiện nhất định, có thể gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người, gây tai nạn và bệnh nghề nghiệp.

 

.

 

  1. Tai nạn lao động.

 

- Tai nạn lao động là tai nạn làm chết ng ười hoặc làm tổn thương đến một bộ phận chức năng nào khác của cơ thể con người do tác động đột ngột của các yếu tố bên ngoài xảy ra trong quá trình lao động.

  1. Bệnh nghề nghiệp.

 

- Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do tác động một cách từ từ của các yếu tố độc hại tạo ra trong sản xuất lên cơ thể con người trong quá trình sản xuất.

Như vậy cả tai nạn lao động và b ệnh nghề nghiệp đều gây hủy hoại sức khỏe con người hoặc chết ngườ i, nhưng khác nhau là: Tai nạn lao động gây huỷ hoại đột ngột, bệnh nghề nghiệp thì gây suy giảm từ từ trong một thời gian nhất định.

  1. Phân tích đặc thù về điều kiện lao động trong ngành xây dựng:

 

  • Đặc thù về điều kiện lao động của công nhân xây dựng :

 

  • Chỗ làm việc của công nhân luôn thay đổi, phải di chuyển phức tạp theo tiến độ xây dựng.
  • Trong ngành xây dựng có nhiều nghề, nhiều công việc nặng nhọc, còn nhiều công việc phải làm thủ công, tốn nhiều công sức, năng suất lao động thấp.
  • Nhiều công việc buộc người lao động phải làm việc trong tư thế gò bó, nhiều công việc phải làm ở trên cao, những chỗ chênh vênh nguy hiểm, có những việc phải làm ở sâu, trong lòng đất, trong nước do đó có nhiều nguy cơ tai nạn.
  • Về phần vệ sinh lao động: Phần lớn các công việc đều làm việc ngoài trời, người công nhân phải tiếp xúc với điều kiện tự nhiên chịu ảnh hưởng của khí hậu, thời tiết.

 

  • Nhiều công việc phải làm trong diều kiện môi trường ô nhiễm bởi các yếu tố có hại như bụi, tiếng ồn, rung động, hơi, khí độc…

Với những điều kiện lao động như trên, nên hết sức quan tâm đến cải thiện điều kiện lao động, bảo đảm an toàn và vệ sinh lao động cho công nhân và những người lao động trong ngành xây dựng.

 

3- Phương pháp phân tích nguyên nhân tai nạn lao đông:

 

  1. Các nguyên nhân nói chung:

 

  • Để nghiên cứu, thực hiện được các biện pháp bảo hộ lao động, ngăn ngừa và loại trừ các nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, việc tìm ra các nguyên nhân của chúng là điều hết sức quan trọng. Những nguyên nhân đó có thể phát sinh ra do điều kiện lao động, điều kiện sản xuất và quá trình công nghệ. Khi máy móc thiết bị hư hỏng, sử dụng chúng không đúng đắn, vi phạm quá trình kỹ thuật, các bộ phận quản lý sản

 

 

 

 

9

 

Bảo hộ và an toàn lao động ngành Trung học Xây dựng

 

xuất không đáp ứng các đ iều kiện bình thường, thiếu sót, sai lầm trong tổ chức lao động, giao nhận công việc không rõ ràng… đều có thể là nguyên nhân gây ra tai nạn trong sản xuất.

 

  • Vì điều kiện lao động trong các nhà máy, xí nghiệp, công trường và các cơ sở sản xuất không giống nhau, nên các nguyên nhân tai nạn lao động xảy ra cũng khác nhau. Vì thế chúng ta không thể nghiên cứu, phân loại chúng chung cho tất cả các lĩnh vực sản xuất. Tuy nhiên các nguyên nhân tai nạn lao động có thể phân thành các nhóm: Nguyên nhân kỹ thuật; Nguyên nhân tổ chức; Nguyên nhân vệ sinh môi trường và nguyên nhân bản thân người lao động.

 

* Những nguyên nhân kỹ thuật có thể là:

 

  • Sự hư hỏng của các thiết bị máy móc chính.
  • Sự hư hỏng của các dụng cụ và phụ tùng.
  • Sự hư hỏng của các đường ống dẫn hơi; dẫn khí; dẫn nhiên liệu.
  • Các kết cấu thiết bị, phụ tùng, dụng cụ không hoàn chỉnh.
  • Khoảng cách cần thiết giữa các thiết bị bố trí không đúng quy định.
  • Thiếu rào chắn, bao che ngăn cách…
    • Những nguyên nhân tổ chức có thể là:

-  Vi phạm quy tắc, quy trình kỹ thuật.

- Tổ chức lao động, cũng như chỗ làm việc không đáp ứng yêu cầu. - Thiếu việc giám sát hoặc giám sát kỹ thuật không đầy đủ.

 

-  Vi phạm chế độ lao động (giờ làm việc, giờ nghỉ ngơi).

-  Sử dụng công nhân không đúng ngành nghề và trình độ chuyên môn.

  • Để công nhân làm việc khi họ chưa được huấn luyện, hướng dẫn chưa nắm được điều lệ quy tắc kỹ thuật an toàn.

 

  • Những nguyên nhân vệ sinh đó là:
  • Môi trường không khí bị ô nhiễm
  • Điều kiện vi khí hậu không thích nghi
  • Chiếu sáng và thông gió không đầy đủ
  • Tiếng ồn và chấn động mạnh
  • Có các tia phóng xạ trong môi trường
  • Tình trạng vệ sinh trong phục vụ sinh hoạt kém
  • Vi phạm điều lệ vệ sinh cá nhân
  • Thiếu sự kiểm tra vệ sinh của y tế …

 

  • Những nguyên nhân về bản thân người lao động đó là:

 

  • Do tuổi tác sức khỏe, giới tính, tâm lý…
  • Do vi phạm các quy định, kỷ luật và nội quy an toàn, vệ sinh lao động, về quy trình công nghệ…
  1. Các nguyên nhân tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp trong ngành xây dựng:

 

Xây dựng là một ngành sản xuất công nghiệp, trong quá trình thi công và lao động ở trên các công trường cũng như trong các xí nghiệp công nghiệp xây dựng có nhiều yếu tố bất lợi tác dụng lên cơ thể con người có thể gây ra các tai nạn lao động. Nguyên nhân tai nạn trong xây dựng cũng bao gồm các nhóm: Nguyên nhân kỹ thuật; Nguyên nhân tổ chức; Nguyên nhân vệ sinh môi trường; Nguyên nhân bản thân

 

 

 

 

10

 

Bảo hộ và an toàn lao động ngành Trung học Xây dựng

 

người lao động.

 

*Nguyên nhân kỹ thuật :

Là những nguyên nhân liên quan đến thiếu sót về mặt kỹ thuật.

 

  • Dụng cụ, thiết bị máy móc, phương tiện sử dụng không hoàn chỉnh đó là
    • Hư hỏng, gây ra sự cố tai nạn như: Đứt cáp, tuột nhanh, gãy vỡ…
    • Thiếu các thiết bị an toàn như: Thiếu thiết bị khống chế quá tải, thiết bị che

chắn.

 

  • Vi phạm quy trình, quy phạm kỹ thuật an toàn như:
    • Vi phạm trình tự tháo dỡ ván khuôn, dàn giáo.
    • Làm việc ở nơi chênh vênh nguy hiểm, trên cao không đeo dây an toàn.
    • Sử dụng phương tiện vận chuyển để chở người.
    • Sử dụng thiết bị điện không đúng điên áp.
  • Thao tác khi thực hiện công việc không đúng (vi phạm quy tắc an toàn)
    • Hãm nhanh đột ngột của máy, vừa nâng, hạ vật vừa quay tay cần khi cẩu

chuyển.

  • Lấy tay làm cữ khi sử dụng máy cưa…

*Nguyên nhân tổ chức

 

Là nguyên nhân liên quan đến những thiếu sót về mặt tổ chức sản xuất.

  • Bố trí mặt bằng, không gian sản xuất không hợp lý.
    • Diện tích làm việc chật hẹp.
    • Bố trí máy móc thiết bị, dụng cụ, nguyên vật liệu sai nguyên tắc.
    • Bố trí hệ thống giao thông và công tác vận chuyển trên công trường không

hợp lý

 

  • Lực lượng công nhân không đáp ứng yêu cầu.
    • Tuổi đời, tuổi nghề, sức khoẻ và trình độ cghuyên môn.
    • Công nhân chưa được huấn luyện và kiểm tra về kỹ thuật an toàn lao động.
  • Thiếu kiểm tra giám sát trong quá trình sản xuất.
  • Thực hiện không nghiêm các chế độ về BHLĐ (giừo làm việc và nghỉ ngơi, chế độ trang bị các phương tiện bảo vệ cá cá nhân, chế độ ồi dưỡng.

 

  • Nguyên nhân vệ sinh môi trường:

 

  • Làm việc trong môi trường vi khí hậu không tiện nghi: Quá nóng, quá lãnh, sự thông thoáng không khí kém.

 

  • Làm việc trong diều kiện thời tiết, khí hậu khắc nghiệt: nắng nóng, gió mưa, sương mù…
  • Môi trường làm việc bị ô nhiễm, các yếu tố độc hại vượt quá giới hạn cho phép: Bụi, hơi độc, khí độc, tiếng ồn, độ rung động, cường độ bức xạ nhiệt.

 

  • Làm việc trong môi trường, điều kiện áp suất cao hoặc thấp hơn áp suất khí quyển bình thường, tư thế làm việc bị gò bó, công việc đơn điệu, nhịp độ lao động quá khẩn trương…
  • Thiếu các phương tiện bảo vệ cá nhân hoặc chất lượng các phương tiện không đảm bảo theo yêu cầu kỹ thuật.
  • Không đảm bảo các yêu cầu vệ sinh cá nhân trong sản xuất

 

  • Nguyên nhân bản thân là nguyên nhân liên quan đến bản thân người lao động.

 

 

 

 

11

 

Bảo hộ và an toàn lao động ngành Trung học Xây dựng

 

  • Tuổi tác, sức khỏe, tâm lý và giới tính không phù hợp với công việc.

 

  • Trạng thái tâm lý không bình thường
  • Vi phạm kỹ thuật, nội quy an toàn và những điều cấm trong quá trình làm việc.
    • Không sử dụng hoặc sử dụng không đúng các dụng cụ, phương tiện bảo vệ

cá nhân.

  • Sử dụng thiết bị máy móc không đúng trách nhiệm và nhiệm vụ của mình. Tóm lại: Khi phân tích nguyên nhân tai nạn lao động có thể căn cứ vào sự phân loại các nguyên nhân nêu trên. Trong thực tế một vụ tai nạn xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân, do đó cần đi sâu phân tích để xác định nguyên nhân nào là chủ yếu, là trực tiếp gây ra tai nạn. để từ đó mới có thể đưa ra được các biện pháp cụ thể, chính xác nhằm ngăn chặn, loại trừ và hạn chế tai nạn.

 

  1. Phương pháp phân tích nguyên nhân gây tai nạn lao động:

 

Để nghiên cứu, đề xuất và ứng dụng các biện pháp phòng ngừa tai nạn lao động có hiệu quả, phải nghiên cứu, phân tích nguyên nhân phát sinh của chúng, nhằm tìm ra được những quy luật phát sinh nhất định, trên cơ sở đó đề ra các biện pháp phòng ngừa và loại trừ chúng. Nguyên nhân tai nạn có thể tiến hành phân tích theo các phương pháp như: Thống kê, địa hình, chuyên khảo.

 

* Phương pháp thống kê:

Dựa vào sự nghiên cứu nh ững số liệu th ống kê và các biên bản tai nạn lao động, tiến hành th ống kê và phân nhóm tai nạn theo những quy ước nhất định như: theo nghề nghiệp; Theo lo ại công việc ti ến hành trong thời gian xảy ra tai nạn; Theo tuổi nghề; Tuổi đời; Theo đặc tính chấn th ương; Theo nguyên nhân; Theo giới tính; Theo trường hợp xảy ra tai nạn trong ngày (giờ đầu ca, giữa ca, cuối ca) theo tháng, năm.

Qua phân tích những số liệu thống kê như vậy, s ẽ cho phép xác định được những nguyên nhân và hình thức chấn thương nào thường gây ra nhiều trường hợp tai nạn nhất. Nó cũng cho phép xác định được nghề nào, công việc nào, lứa tuổi nào… thường xảy ra nhiều tai nạn. Trên cở sở đó, nghiên cứu các biện pháp cụ thể để cải tiến tình trạng kỹ thuật an toàn và loại từ các nguyên nhân phát sinh tai nạn.

 

Ví dụ: Theo số liệu thống kê số tai nạn xảy ra nhiều nhất v ới công nhân trẻ, tuổi nghề thấp, chứng tỏ phải tăng cường luyện tay nghề cho họ và h ướng dẫn bi ện pháp làm việc an toàn cho họ. Ngược l ại tai nạn xảy ra nhiều với thợ bậc cao, lâu năm, chứng tỏ họ coi thường an toàn lao động, nội quy kỷ luật lao động, do đó phải tăng cường kiểm tra, tuyên truyền nhắc nhở ý thức chấp hành cho công nhân. khuyết điểm của phương pháp này là cần phải có thời gian để thu thập số liệu.

 

*Phương pháp địa hình:

 

Trên mặt bằng công trường, công trình hay trong xưởng s ản xuất, tiến hành đánh dấu những dấu hiệu có tính quy ướ c ở những nơi xảy ra tai nạn (kể cả nơi tai nạn tái diễn). Những dấu hiệu đ ó đã cho biết một cách rõ ràng, trực giác nguồn gốc những tr ường hợp tai nạn xảy ra có tính chất địa hình. Căn cứ vào những dấu hiệu đó, cho biết ngay nơi nào thường xảy ra nhiều tai nạn. Yêu cầu đối với phương pháp này là phải đánh dấu ngay và đầy đủ tất cả các trường hợp tai nạn xảy ra. Khuyết điểm

 

 

 

 

12

 

Bảo hộ và an toàn lao động ngành Trung học Xây dựng

 

của phương pháp này cũng cần phải có thời gian, nhiều khi cũng tạo ra tâm lý cho người lao động nếu việc đánh dấu quá cụ thể.

* Phương pháp chuyên khảo

 

Là phươ ng pháp nghiên cứu tổng hợp tất cả những nguyên nhân và đ iều kiện sản xuất từ đó gây ra tai nạn, bao g ồm điều tra tỷ mỷ toàn bộ tình hình sản xu ất và nghiên cứu các nguyên nhân của các trườ ng hợp tai nạn xảy ra trong xưởng hoặc trên, khu vực sản xuất. Phương pháp này cho phép nghiên cứu đầy đủ nhất các biện pháp phòng ngừa các tr ường hợp tai nạn và b ệnh nghề nghiệp có thể xảy ra. Cần tiến hành điều tra. Các quá trình sản xuất và lao động, quá trình vận chuyển, tình hình nhiên liệu, năng lượng và vật liệu ph ụ, tình trạng máy móc, dụng cụ, phụ tùng, sự chiếu sáng, điều kiện trang bị dụng cụ phòng hộ cá nhân…

 

Ưu điểm của phương pháp này là cho phép xác định đầy đủ các nguyên nhân phát sinh ra tai n ạn, đây là vấn đề quan trọng để quyết định các biện pháp loại trừ các nguyên nhân đó:

Nguyên cứu nguyên nhân tai nạn lao động theo phương pháp chuyên khảo được tiến hành như sau:

  • Nghiên cứu các nguyên nhân thuộc về tổ chức và kỹ thuật theo các số liệu thống

  • Phân tích sự phụ thuộc của những nguyên nhân đó vào các phương pháp hoàn thành các quá trình thi công xây dựng và xác định đầy đủ các biện pháp an toàn đã thực hiện.
    • Nêu ra kết luận trên cơ sở phân tích.
  1. Phương pháp đánh giá tình hình tai nạn lao động:

Chúng ta đã biết, để đánh giá về tình hình tai nạn lao động ở một đơn vị trong

một thời gian nhất định, là căn cứ vào các hệ số tần suất (Kts) và hệ s ố nặng nhẹ (Kn). Nhưng để đánh giá một cách tổng quát, thể hiện đầy đủ đặc trưng về tình hình tai nạn

 

phải đưa thêm vào hệ số tai nạn nói chung (Ktn), hệ số này là tích số của hai hệ số tần suất và nặng nhẹ, tức là:

Ktn = Kts * Kn

 

 

Ví dụ: Ở một công trường A, số người bị tai nạn trong năm 2003 là 5 ng ười s ố ngày nghỉ vì tai nạn là 30 ngày. Công trường A có s ố công nhân làm việc trung bình là 200 người. Ở công tr ường B, số người bị tai nạn trong năm 2003 là 10 người, số ngày nghỉ vì tại nạn là 50 ngày. Công trường B có số công nhân làm việc trung bình là 400 người. Hãy so sánh tình hình tai nạn của hai công trường.

 

Xét công trường A:

 

 

  • Hệ số tần suất

 

 

 

  • Hệ số nặng nhẹ

 

KtsA  = NS ×1000 = 2005 ×1000 = 25

 

K nA  = DS = 305 = 6

 

 

+ Hệ số tai nạn nói chung KtnA  = KtnA × K nA  = 25 × 6 = 150

 

 

 

 

13

 

Bảo hộ và an toàn lao động ngành Trung học Xây dựng


 

 

 

Xét công trường B:

 

+ Hệ số tần suất

 

 

 

 

KtsB  = NS ×100 = 40010 ×1000 = 25

 

 

 

 

  • Hệ số nặng nhẹ

 

 

  • Hệ số tai nạn nói chung

 

 

K nB  = DS = 1050 = 5

 

KtnB  = KtnB × K nB  = 25 × 5 = 125

 

 

Nh ư v ậy xét công trường A và công trường B. Trong năm 2003 công trường A để xảy ra tai nạn nhiều hơn công trường B.

 

  1. Các bước tiến hành khám, phát hiện điều trị và giám định bệnh nghề nghiệp:

 

  • Người sử dụng lao động ở các cơ sở có yếu tố gây bệnh nghề nghiệp phải phối hợp với các cơ sở khám bệnh nghề nghiệp tại địa phương hoặc ngành tổ chức khám bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Việc thực hiện khám bệnh nghề nghiệp cho người lao động. phải thực hiện đúng quy định, quy trình kỹ thuật từng bệnh do Bộ y tế quy định.

 

  • Cơ sở Y tế các tỉnh , thành phố trực thuộc Trung ương cần tổ chức ít nhất một phòng khám bệnh nghề nghiệp. Các bộ ,ngành có nhiều lao động có nguy cơ bị bệnh nghề nghiệp và có sẵn hệ thống y tế thì có thể tổ chức phòng khám bệnh nghề nghiệp. Các phòng khám bệnh nghề nghiệp phải đăng ký với Bộ y tế ( Vụ y tế dự phòng).

 

  • Bác sỹ bệnh nghề nghiệp phải là bác sỹ đã học tập chương trình về vệ sinh lao động, bệnh nghề nghiệp và phải có chứng chỉ do các cơ sở đào tạo cấp. Bộ y tế quy định các cơ sở đào tạo này.
  • Người sử dụng lao động phải có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc khám bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Hồ sơ khám bệnh nghề nghiệp bao gồm.
    • Giấy giới thiệu của đơn vị sử dụng lao động.
    • Hồ sơ sức khẻo bao gồm: Hồ sơ khám tuyển và định kỳ
    • Kết quả đánh giá môi trường lao động
    • Những hồ sơ bệnh án, điều trị bệnh(nếu có).
  • Người lao động khi phát hiện bị bệnh nghề nghiệp phải được cách li môi trường lao động gây bệnh nghề nghiệp để theo dõi, điều trị, điều dưỡng phục hồi chức năng và hoàn thiện hồ sơ. Nếu suy giảm sức khoẻ do bệnh nghề nghiệp thì được giám định sức khoẻ.
  • Người bị bệnh nghề nghiệp phải được điều trị theo đúng chuyên khoa, được

 

điều dưỡng, phục hồi chức năng và khám sức khoẻ 6 tháng 1 lần.

 

- Hồ sơ của ngườ i bị bệnh ngh ề nghiệp phải có 2 tập, một tập do người sử dụng lao động quản lý, một tập do người lao động quản lý có giá trị như nhau.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

14

 

Bảo hộ và an toàn lao động ngành Trung học Xây dựng

 

CHƯƠNG II:

 

VỆ SINH LAO ĐỘNG

I/ TÁC HẠI NGHỀ NGHIỆP VÀ BỆNH NGHỀ NGHIỆP TRONG NGÀNH

 

XÂY DỰNG

 

1- Tác hại nghề nghiệp trong ngành Xây dựng

 

  1. Các yếu tố tác hại nghề nghiệp chung:

 

Thường thường trong một nghề nghiệp có thể có nhiều tác hại nghề nghiệp khác nhau nhưng mỗi ngành nghề đều có một hoặc vài tác hại nghề nghiệp phổ biến nhất, đặc trưng cho ngành nghề của mình. Tính chất sản xuất càng lạc hậu, thủ công tác h ại nghề nghiệp càng nhiều và càng trầm trọng. Ta có thể phân loại các tác hại nghề nghiệp thành ba loại sau:

 

  1. Tác hại liên quan đến quá trình sản xuất:

 

  • Yếu tố vật lý và hóa lý:

 

  • Điều kiện vi khí hậu trong sản xuất không phù hợp: Nhiệt độ, độ ẩm cao hoặc thấp, thoáng khí kém, cường độ bức xạ nhiệt quá mạnh.
  • Bức xạ điện từ, bức xạ cao tần, tia hồng ngoại, tia tử ngoại…
  • Các chất phóng xạ và các tia phóng xạ.
  • Tiếng ồn và chấn động.
  • Áp suất cao hoặc áp suất thấp.
  • Bụi trong sản xuất.
  • Các chất độc trong sản xuất.

 

  • Yếu tố sinh vật:

 

  • Vi khuẩn và siêu vi khuẩn gây bệnh.
  • Ký sinh trùng và nấm mốc gây bệnh. c. Tác hại liên quan đến tổ chức lao động:
  • Thời gian làm việc liên tục quá lâu, làm thông ca.
  • Cường độ lao động quá nặng nhọc, không phù hợp với tình trạng sức khoẻ công nhân.

 

  • Chế độ làm việc và nghỉ ngơi bố trí không hợp lý.
  • Làm việc với tư thế gò bó không thoải mái.
  • Sự hoạt động khẩn trương, căng thẳng quá độ của các hệ thống giác quan, hệ th ần kinh, thị giác, thính giác…
  • Công cụ sản xuất không phù hợp.

 

  1. Tác hại liên quan đến điều kiện vệ sinh và an toàn:

 

  • Thiếu ánh sáng hoặc ánh sáng không hợp lý
  • Làm việc ở ngoài trời có thời tiết xấu.
  • Nơi làm việc chật chội, lôn xộn, mất trật tự thiếu ngắn nắp.
  • Thiếu thiết bị thông gió, chống bụi, chống nóng, chống hơi khí độc.
  • Thiếu trang bị phòng hộ lao động hoặc trang bị không đúng tiêu chuẩn.

 

  • Thực hiện quy tắc vệ sinh và an toàn không nghiêm.
  • Những công việc nặng nhọc, nguy hiểm chưa được cơ giới hóa còn làm theo phương pháp thủ công.

 

  1. Các yếu tố tác hại nghề nghiệp trong ngành xây dựng:

 

<p

VIỆN ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG CÁN BỘ XÂY DỰNG


Trụ Sở Chính

Adress: 227 Trần Đại Nghĩa - Hai Bà Trưng - Hà Nội

Điện Thoại: (04) 6686 8910 - Fax: (04) 3257 9999

Hotline: 0904 889 859 - 0908 060 060 - 0994 82 9999

VP HCM

Địa chỉ: Số 10 Đường 3/2 - Quận 10 - TPHCM

Hotline: 0904 889 859 - 0908 060 060

Email: vienxaydung.edu.vn@gmail.com


Website: www.vienxaydung.com.vn - www.vienxaydung.edu.vn

2 Phiếu /